FAQ - CÂU HỎI THƯỜNG GẶP

Hệ thống camera quan sát thông thường bao gồm: camera + đầu ghi hình DVR độc lập (hoặc card DVR gắn vào máy tính) + màn hình để theo dõi Với hệ thống quan sát qua internet (vẫn phải bao gồm những bộ phận trên).

  1. Nếu là camera quan sát thông thường thì cần card DVR hoặc đầu ghi DVR (loại có hỗ trợ kết nối internet).
  2. Nếu là camera IP có thể kết nối trực tiếp lên mạng (vì đã được tích hợp server).

Đây là thông số kích cỡ cảm biến hình ảnh: 1 inchs = 2.54 cm, camera có cảm biến 1/3” sẽ tốt hơn 1/4”

Sự khác nhau cơ bản nhất của Camera quan sát thông thường và Camera IP là: Camera IP có khả năng chạy trực tiếp trên mạng (chun giao din cng RJ45), còn camera thông thường thì không thực hiện được việc này.

Nếu một camera thông thường muốn đưa lên mạng thì phải kết nối thông qua thiết bị trung gian là Video Server, đầu DVR độc lập hoặc máy tính có gắn card DVR.

Zoom quang và zoom số đều có tính năng là phóng to hình ảnh được chọn nhưng với zoom quang khi phóng to chất lượng hình ảnh không thay đổi vì zoon quang sử dụng ống kính quang học còn zoom số khi phóng to chất lượng hình ảnh sẽ giảm vì mật độ điểm ảnh giảm (hình ảnh sẽ bị vỡ, không rõ).

Muốn zoom số được nhiều lần không ảnh hưởng đến chất lượng ảnh thì độ phân giải ảnh phải cao (đơn vị là pixel), độ phân giải cao thì kích thước file ảnh lớn khó lưu trữ.

Tính chất chung của các ảnh số là tương quan giữa các pixel ở cạnh nhau lớn, điều này dẫn tới dư thừa thông tin để biểu diễn ảnh. Việc dư thừa thông tin dẫn tới việc mã hóa không tối ưu. Do vậy, ta cần tìm phương án biểu diễn ảnh với tương quan nhỏ nhất, để giảm thiểu độ dư thừa thông tin của ảnh. Có 2 kiểu dư thừa thông tin như sau:

  • Dư thừa trong miền không gian: là tương quan giữa không gian pixel của ảnh (các pixel lân cận của ảnh có giá trị gần giống nhau, trừ những pixel ở giáp đường biên ảnh).
  • Dư thừa trong miền tần số: là tương quan giữa những dải màu hoặc các dải phổ khác nhau.

Chuẩn nén MJPEG tuân theo nguyên tắc tìm ra các phần tử dư thừa miền không gian (mỗi frame nén tự động).

MPEG không phải là một công cụ nén đơn lẻ, mà ưu điểm của ảnh nén dùng MPEG là ở chỗ MPEG có một tập hợp các công cụ mã hóa chuẩn, chúng có thể kết hợp với nhau một cách linh động để phục vụ cho một loạt các ứng dụng khác nhau.Nguyên lý chung của nén tín hiệu video là loại bỏ sự dư thừa về không gian (spatial redunancy) và sự dư thừa về thời gian (temporal redunancy). Trong MPEG, việc loại bỏ sự dư thừa về thời gian (nén liên ảnh), được thực hiện trước hết nhờ sử dụng tính chất giữa các ảnh liên tiếp. Chúng ta dùng tính chất này để tạo ra các bức ảnh mới nhờ vào thông tin từ những bức ảnh gửi trước đó. Do vậy ở phía bộ mã hóa ta chỉ cần giữ lại những ảnh có sự thay đổi so với ảnh trước, sau đó ta dùng phương pháp nén về không gian trong những bức ảnh sai khác này.

Tuy nhiên, do sự tương đồng giữa các frame là rất lớn, nên sự phát hiện ra các sai lệch là rất khó. Do vậy ảnh khôi phục khó đạt được như ảnh gốc. Điều này đồng nghĩa với việc chất lượng ảnh cũng tương tự như khi dùng chuẩn MJPEG, nhưng dung lượng kênh truyền và không gian lưu trữ của các chuẩn nén của chuẩn nén MPEGx là nhỏ hơn.

Camera Vivotek không có địa chỉ IP cố định, để dò tìm được IP của camera trong nội bộ, chúng ta vào trang Vivotek.com, tải phần mềm IW2 - Installation Wizard 2. Sau khi tải về và cài đặt, mở phần mềm lên và nó sẽ tự động dò tìm IP của camera trong mạng nội bộ.

Q6-faq

Q7-faq

Từ giao diện hiển thị của camera, chúng ta chọn Configuration --> Network: use fixed IP address: đặt địa chỉ IP cho camera (vd:192.168.88.57).

 - Treaming protocols --> HTTP Streaming --> Secondary HTTP port: đặt lại port này làm port Web cho camera (VD:5700).

- Treaming protocols --> RTSP Streaming ---> RTSP port: đặt lại port này làm port luồng hình ảnh cho camera (VD:5701). Lưu ý: Secondary Http port và RTSP port phải khác nhau.

NAT port giúp xem hình ảnh của camera trên internet. NAT port cho camera gồm 2 bước: cấu hình cho camera và cấu hình router cho phép chức năng NAT (hoặc "port forwarding", hoặc "open port").

Bước 1: Mở camera trên Internet Explorer, vào Configuration/Network/General Setting, chọn "Use fixed IP Address", gõ 1 IP address chưa được sử dụng trong mạng LAN (vd 192.168.88.57). Sau đó xuống mục Streaming protocols, trong tab HTTP Streaming, gõ port cần NAT (vd: 5000) vào ô Secondaray HTTP port; trong tab RTSP streaming gõ port cần NAT (vd: 5001) vào ô RTSP port. Sau đó lưu lại.

Bước 2: Mở chức năng NAT (hoặc port fowarding trên router). Mở vào trang web cấu hình của router (tuỳ loại router) và làm theo hình vẽ (tuỳ mỗi router mà giao diện cấu hình sẽ khác nhau).

Do IE đang sử dụng phiên bản quá cao hoặc do chưa cài đặt Plugin, nếu gặp trường hợp này thì chúng ta nên reset lại trình duyệt IE của mình.

Vào Google Play Store (Android) hoặc App Store (iOS), tải phần mềm iViewer của Vivotek về. Chọn "Add device manually", chuyển sang tab camera, gõ IP public và port của camera vào (sau khi camera được NAT port ra ngoài), nếu camera có username và password thì gõ tương ứng, không thì để trống, sau đó chọn Add.

Q9-faq

- Safe100.net là tên miền mà camera Vivotek hỗ trợ.

- Để tạo tên miền, từ giao diện à ta chọn Configuration --> Network --> DDNS --> check vào Enable DDNS --> Provider: Safe100.net --> Click chọn Accept. Trong phần Register, chúng ta đặt tên Host Name, nhập Email... sau đó ta chọn Register và chờ kết quả.

Q10-faq

CÂU HỎI CỦA BẠN

TOP


500

HỖ TRỢ SALE

090915 1617
090909 7928
090808 7928
090909 1248

HỖ TRỢ DỰ ÁN TP.HCM - welcome@ion.vn

090909 1245
090909 2158

KỸ THUẬT - support@vivotek.vn

090909 1247
094613 7788

HÀ NỘI

091662 6467

BẢO HÀNH - cskh@vivotek.vn

094613 7788